Trang chủ > Chân dung Phạm Xuân Ẩn > Kỳ 17 – Lặn sâu vào lịch sử

Kỳ 17 – Lặn sâu vào lịch sử

TTO – Trong một bài viết của mình (ông Ẩn giờ đây rất ít viết gì trên báo chí, trừ công việc nghiên cứu), đã phác ra một bức tranh mang tính tổng kết. Không phải nhà viết sử, nhưng bài viết nhỏ ấy cho thấy ông đã bám sát theo cuộc chiến như thế nào. Đi theo ngòi bút tổng kết ngắn gọn của một tình báo chiến lược, chúng ta có thể lướt trên những mốc sự kiện lớn nhất của cuộc chiến…

Sau hiệp định Genève, Việt Nam tạm chia hai để chờ tổng tuyển cử, nhưng âm mưu của Hoa Kỳ đã làm cho con số 2 năm mà người đi tập kết cùng gia đình họ ở lại Miền Nam đau đáu mong chờ, đã thành 20 năm. Thắng lợi ấy cũng phải do chiến tranh giải phóng đem lại. Mỹ hất Pháp khỏi Miền Nam, thành lập chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm.

Đó cũng chính là lúc nhân vật tình báo Phạm Xuân Ẩn vào sâu trong cuộc. Ông được đi cùng các sĩ quan tham mưu tham gia phái đoàn cố vấn Mỹ soạn thảo, tham mưu tổ chức 6 sư đoàn khinh quân đầu tiên trong chương trình xây dựng quân đội. Thời kỳ đấu tranh chính trị 1954 – 1959 bao đau thương, mất mát cho tới cuối 1959 Đảng ta quyết định phối hợp đấu tranh chính trị và quân sự. Chỉ sau đó 4 năm, chế độ Diệm sụp đổ, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam ra đời. Mỹ đã lựa chọn đưa quân vào trực tiếp làm chiến tranh.

Lịch sử chương này sẽ cho thấy các chi tiết: Đại tướng Maxwell D. Taylor cố vấn an ninh Tổng thống được cử làm đại sứ thay Henry Cabot Lodge năm 1964. Mọi chủ trương chính sách chiến lược đều do Hội đồng Tối cao (Mission Council) gồm 4 đại diện: Đại sứ, Đại tướng chỉ huy Quân sự MACV, giám đốc USAID về kinh tế, giám đốc USIS JUSPAO về chính trị. Chúng ta cũng thấy được sự thành công to lớn của cách mạng thể hiện trong ngành tình báo. Họ đã vào sâu được các nội dung quan trọng của cơ quan đầu não này. Phạm Xuân Ẩn chỉ là một ví dụ. Năm 1964 Mỹ đưa chiến hạm Moddox vào Hải Phòng khiêu khích làm cớ mở rộng chiến tranh ra Miền Bắc Việt Nam. Tại Miền Nam, quân ta thắng lớn tại Bình Giã, được coi như biến cố quân sự lớn đánh dấu giai đoạn 2 của quân ta vận động dã chiến sang giai đoạn 3 tấn công toàn diện về quân sự – chính trị. Chính phủ Hoa Kỳ quyết định triển khai đưa đủ mọi binh chủng vào Việt Nam.

Ông có mặt ở nơi cần thiết nhất cho việc có tài liệu giá trị chiến lược loại tuyệt mật trong suốt các giai đoạn khác nhau của chiến tranh. Các kỹ thuật, chiến thuật mới của kẻ thù, các cuộc hành quân lớn, các trang bị của quân viễn chinh, các chiến dịch lớn, đều được chuyển đến Bộ chỉ huy của cách mạng, an toàn tuyệt đối tới ngày chiến thắng.

Chính sự an toàn này, nó cũng là một sự tuyệt mật lớn lao của kỳ tích cách mạng! Sự tuyệt mật này thách đố cả ngọn đèn flash muốn chớp lấy dù chỉ là phần nổi của chân dung con người. Còn bề chìm sâu với những vẻ đẹp dữ dội của các tình huống gay go ác liệt trong hoàn cảnh đặc biệt của ông, vẻ đẹp tinh thần của các chiến sĩ tình báo nữa… Có thể chúng ta sẽ chẳng bao giờ có được hết hình ảnh cụ thể những người tình báo chiến lược như ông. Tất cả những chuyển động hàng ngày, đòi hỏi sự phân tích, đeo bám của người tình báo. Giống như một sự đối chiếu tương ứng với diễn biến cuộc chiến tranh, chúng ta đã có nhiều bản tiểu sử cá nhân như của ông Ẩn. Nếu đem lý lịch của các cán bộ lão thành cách mạng ra khảo sát, chúng ta sẽ thấy như hồ sơ cá nhân người cách mạng Việt Nam, luôn tương quan với lịch sử. Họ luôn ở ngay trong lòng sự kiện.

Trong hồi ký của tướng Westmoreland, viên Đại tướng đã đến Sài Gòn năm 1964 thay Harkins làm tư lệnh MACV về quân sự, một ứng viên được coi như “người hùng” của chiến tranh Việt Nam tương tự như tướng Dwight Eisenhower trong Đại chiến II và là nhân vật Đảng Cộng hòa đưa ra ứng cử Tổng thống vào cuối 1968. Chúng ta hãy đọc lại những dòng hồi tưởng của Đại tướng Westmoreland về những ngày này:

Đầu tháng 5, một trung đoàn Việt Cộng, trung đoàn đầu tiên tấn công với lực lượng lớn như vậy kể từ trận Bình Giã trước đó 6 tháng, đã gây thiệt hại lớn ở Sông Bé, thị xã tỉnh Phước Long, dọc biên giới Campuchia, phía bắc Sài Gòn. Chỉ với sự chi viện tích cực của máy bay và tiếp viện một trung đoàn mới cứu được thị xã. Đến cuối tháng ở Ba Gia thuộc tỉnh Quảng Ngãi, một trung đoàn Việt Cộng hầu như đã tiêu diệt sạch một tiểu đoàn của Việt Nam trong một trận phục kích và sau đó đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn khác tìm cách tới ứng cứu, trong đó viên cố vấn Mỹ, đại úy O. Sulivan đã chiến đấu rất dũng cảm. Sức ép của cao nguyên Miền Trung nặng nề tới mức quân chính phủ đã phải bỏ nhiều quận lỵ.

Sau khi đánh tràn vào một quận ở Pleiku, Việt Cộng bắt đầu bao vây một trại lực lượng đặc biệt CIDG (Civilian Irregular Defence Group – Dân sự chiến đấu). Đó là trận đánh do lực lượng đặc biệt – Special Forces chỉ huy ở gần đó. Ngày 10-6 chiến sự lại nổ ra ở tỉnh Phước Long tại quận lỵ Đồng Xoài với một trận tấn công của các bộ phận thuộc hai trung đoàn Việt Cộng. Việt Cộng đã san bằng trại CIDG, lực lượng đặc biệt bên ngoài thị trấn, tiêu diệt đơn vị đầu tiên của một tiểu đoàn dự bị thuộc quân đội Việt Nam được chở đến bằng máy bay lên thẳng, và ngăn không cho số còn lại của tiểu đoàn đổ xuống. Hai tiểu đoàn cứu viện nữa đã bị đánh nặng nề trước khi Việt Cộng rút lui sau đó 2 ngày”.

Điểm qua một đoạn hồi ký của viên tướng tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam để thấy được không khí chiến tranh thật sự được nhìn nhận dưới mắt đối phương. Phạm Xuân Ẩn phân tích đó là giai đoạn cuộc chiến tranh toàn diện ác liệt với hơn nửa triệu quân Mỹ và chư hầu với kế hoạch 4 bước: 1965 đưa quân vào, 1966 triển khai quân; 1967 tấn công toàn Miền Nam, vào 1968: chiến thắng quyết định. Rồi cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 ta đánh ba đợt, vào cả các thành phố lớn, 64 mục tiêu lớn, 107 mục tiêu vừa và nhỏ, trong các mục tiêu có cả Dinh Độc lập và Đại sứ quán Mỹ. Tổng cộng chiến dịch Mậu Thân ta phá hủy 13.000 xe, 3.400 máy bay, 1.000 tàu chiến; phá 15.000 đồn bốt và phá rã 1.200 ấp chiến lược. Tổng thống Mỹ Lyndon B.Johnson quyết định không ra ứng cử tiếp. Đại tướng Westmoreland bàn giao trở về Hoa Kỳ. Cuộc chiến tranh sang giai đoạn mới, ứng cử viên Đảng Cộng hòa Richard Nixon lên với chủ trương Việt Nam hóa chiến tranh nhưng đến 1973 phải ký Hiệp định Paris, rút quân Mỹ. Đến 1975 chiến dịch đại thắng mùa Xuân, mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh đã giải phóng hoàn toàn Việt Nam.

Ngày nay, thiên sử vẻ vang ấy đã trở nên chói sáng và rõ ràng trước toàn nhân loại. Nhưng đối với người Mỹ, việc nghiên cứu và trả lời cho cuộc chiến này không hề dễ dàng, nếu không muốn nói nó vẫn là những chia rẽ nội bộ về nhận định. Như tác giả cuốn Sự nghiệp của một Tổng thống bị đổ vỡ – L.Johnson và Việt Nam, H.Y. Schandler viết: “Những sự phân hóa và bất đồng ý kiến về việc Hoa Kỳ tham gia vào chiến tranh Việt Nam vẫn chưa phai mờ trong trí nhớ”.

Còn trên báo chí, cho đến đầu thế kỷ 21, khi chiến tranh qua đã 26 năm, đã bao nhiêu tài liệu, sách, phim ảnh được công bố, giờ đây người ta vẫn còn phải bàn cãi xem những báo cáo nói trên 100 ngàn cựu binh Mỹ tại Việt Nam đã tự tử khi trở về Mỹ là đúng, hay là 58 ngàn là đúng. Nhưng dù có là con số nào đi nữa thì một sự thật mang cái tên “Hội chứng Việt Nam” đã là căn bệnh kéo dài cho cả nước Mỹ.

Chẳng thế, mà chỉ riêng những cựu binh Mỹ trở lại Việt Nam, trung bình cứ mỗi tháng có một đoàn. Họ đến khắp nơi trên đất nước này, đầu tiên là về nơi họ đã tham chiến xưa kia, rồi làm cái việc lẽ ra phải làm từ trước khi họ đến lần đầu để đánh trận, là tìm hiểu về xứ sở, con người và nền văn hóa Việt Nam, những thứ mà bây giờ đang được nhắc đến như là những nguyên nhân của thắng lợi.

Một cựu binh Mỹ trở lại Charlie-one, một căn cứ pháo binh cũ của Mỹ – ngụy ngày trước thường nã đạn vào Việt Cộng ở khu phi quân sự, chính tại vùng đất này của Quảng Trị, đã diễn ra phần lớn các trận đánh ác liệt của cuộc chiến tranh từ năm 1965 đến 1975. Và vùng này đã được nhà báo Pháp của tờ Liberation mô tả như sau: “Một cánh rừng cây lúp xúp trải dài xa tít tắp, tận chân những quả đồi tròn như những chiếc bát úp màu đỏ quạch. Một làn mưa bụi và sương mù bao phủ những quả đồi trọc lốc cho đến nay vẫn không có cây mọc vì chất độc hóa học do máy bay Mỹ rải trong chiến tranh. Hai mươi nhăm năm sau cuộc chiến tranh, mảnh đất dưới chân đồi vẫn còn dày đặc bom mìn chưa nổ và cả những bộ xương người”.

Vẫn trong bài báo này, tác giả Philippe Grangereau nhắc tới số lính Mỹ còn mất tích đến nay sau nhiều tích cực tìm kiếm của hai nhà nước, chỉ còn 1.500 người thì số lính Việt Nam mất tích là 300 ngàn người. Vì thế khi đến vùng Quảng Trị, cựu binh Mỹ David Denman nói: “Khi những cựu chiến binh Mỹ đến đây, họ tưởng dân chúng sẽ đón tiếp họ bằng những viên đá. Nhưng họ đã được đón tiếp nồng nhiệt và khi ra đi họ vẫn còn ngạc nhiên và như bị thôi miên”. Còn Suel Jones, một lính Mỹ đã từng chiến đấu tại khu phi quân sự cũ vào năm 1968 nói: “Ngày tôi có thể nói chuyện với những Việt Cộng và gây được cảm tình của họ, là một ngày trọng đại trong đời tôi”…

Những chuyện như thế kể ra thì rất nhiều. Vẫn tác giả cuốn Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ – L. Johnson và Việt Nam cho rằng: “Tất cả các tư liệu lịch sử đều có những hạn chế, gò bó cố hữu của chúng. Người viết sử chẳng mấy khi gặp dịp nắm đủ tất cả các tin tức liên quan. Phần lớn những gì anh ta nắm được đều đã bị chiến tranh hoặc ảnh hưởng của thời gian làm sai lạc trầm trọng… Thực tế, một người từng tham dự các sự biến có thể cho thấy những hiểu biết tường tận có ích. Ngoài ra không có một tác phẩm soạn thảo nào có thể hình thành trong một đầu óc rỗng không, bởi người nào làm việc đó cũng có những ước đoán, hiểu biết và những chính kiến bắt nguồn từ những kinh nghiệm bản thân, văn hóa và thời đại của chính người ấy. Trên phương diện đó, mọi lịch sử chẳng qua chỉ là phản ánh thời đại lúc viết”.

Chỉ riêng ở Mỹ, tính tới năm 1971 đã có 10 quyền sách được viết về việc hình thành các quyết định của Mỹ sau Tết Mậu Thân. Sự chuyển hướng chính sách của Hoa Kỳ ở Việt Nam luôn là kết quả của các cuộc tranh cãi nội bộ cao cấp nhất…

Công việc tổng kết cuộc chiến tranh không chỉ diễn ra khá đồ sộ ở phía Mỹ. Tại Việt Nam, nhiều bộ sử lớn về chiến tranh đã và đang tiến hành. Hồi ký của các tướng lĩnh là rất quan trọng bởi đời họ thấm đẫm các chi tiết của sự kiện lớn. Nhưng những người lính thường vẫn chưa có nhiều hồi ký và ghi chép vào cuộc. Ngay cả nhân vật của cuốn sách này, thiếu tướng Anh hùng Phạm Xuân Ẩn cũng không có chủ trương công bố tác phẩm nào về phía cá nhân. Đó là một sự khiêm tốn, một cách sống mang tính nguyên tắc cá nhân có thể đang được tôn trọng nhưng đồng thời cũng là một sự lãng phí xót xa vì những câu chuyện con người cụ thể, mang nhiều phần lịch sử sẽ bị đem đi âm thầm. Đằng sau bức tranh tổng quát nhất về các diễn biến của chiến tranh, sự vĩ đại của chiến công, vẫn còn tiềm ẩn câu chuyện đời của những người Việt Nam. Đó là nỗi khát khao của người viết cuốn sách nhỏ này, muốn như những chớp đèn flash chớp vội, vẽ chân dung tản mạn của một người anh hùng.

Ông có mặt ở nơi cần thiết nhất cho việc có tài liệu giá trị chiến lược loại tuyệt mật trong suốt các giai đoạn khác nhau của chiến tranh. Các kỹ thuật, chiến thuật mới của kẻ thù, các cuộc hành quân lớn, các trang bị của quân viễn chinh, các chiến dịch lớn, đều được chuyển đến Bộ chỉ huy của cách mạng, an toàn tuyệt đối tới ngày chiến thắng.

Chính sự an toàn này, nó cũng là một sự tuyệt mật lớn lao của kỳ tích cách mạng! Sự tuyệt mật này thách đố cả ngọn đèn flash muốn chớp lấy dù chỉ là phần nổi của chân dung con người. Còn bề chìm sâu với những vẻ đẹp dữ dội của các tình huống gay go ác liệt trong hoàn cảnh đặc biệt của ông, vẻ đẹp tinh thần của các chiến sĩ tình báo nữa… Có thể chúng ta sẽ chẳng bao giờ có được hết hình ảnh cụ thể những người tình báo chiến lược như ông. Tất cả những chuyển động hàng ngày, đòi hỏi sự phân tích, đeo bám của người tình báo. Giống như một sự đối chiếu tương ứng với diễn biến cuộc chiến tranh, chúng ta đã có nhiều bản tiểu sử cá nhân như của ông Ẩn. Nếu đem lý lịch của các cán bộ lão thành cách mạng ra khảo sát, chúng ta sẽ thấy như hồ sơ cá nhân người cách mạng Việt Nam, luôn tương quan với lịch sử. Họ luôn ở ngay trong lòng sự kiện.

1947 – hoạt động ở Sài Gòn.

1948 – xuống Mỹ Tho học tú tài.

1949 – bãi khóa, tham gia phong trào học sinh sinh viên.

1950 – đỉnh cao phong trào Trần Văn Ơn.

1951 – làm thư ký kế toán hãng xăng – rồi thư kýhải quan. Được giao nhiệm vụ tình báo chiến lược.

1954 – đi lính Pháp, làm bí thư phòng chiến tranh tâm lý Bộ Tổng tham mưu.

1955 – Mỹ qua thay Pháp, ông làm sĩ quan liên lạc của phía Việt Nam trong cơ quan TRIM (3 bộ Tư lệnh nhập lại: Mỹ – Việt – Pháp) và tiếp theo là phái bộ huấn luyện quân sự Mỹ C.A.T.O (Combined Army Training Organization) cho đến đầu năm 1957.

1957 – đi học Đại học tại Mỹ.

1959 – về nước, làm việc ở Sở nghiên cứu chính trị – văn hóa – xã hội, biệt phái sang Việt Tấn xã đến cuối 1960.

1960 đến giữa 1964 – làm hãng Reuters.

1965 đến 1976 – làm cho Tuần báo Time; Ngoài ra đã từng làm cộng tác viên của hai nhật báo: The New York Herald Tribune, và The Christian Science Monitor.

Nhìn hồ sơ cá nhân tóm lược ấy, mới hiểu ông đã “lặn sâu” vào đầu não đối phương tới mức hệ thống như thế nào. Lặn sâu đến mức có hẳn một cuộc đời khác sau tất cả các kỹ nghệ điều tra tân kỳ của thời Mỹ cũng như thời Ngô Đình Diệm.

Vậy nên cũng dễ hiểu khi một tiểu thuyết gia, một nhà văn lớn của Việt Nam, ông Nguyễn Khải đã lấy nguyên mẫu đời ông Ẩn để viết hai cuốn tiểu thuyết. Đó là sau khi đã ngạc nhiên thấy ông mặc quân phục cấp tá trong Đại hội Đảng lần thứ Tư. Trước đó, nhà văn cứ tưởng ông chỉ là một viên sĩ quan ngụy bị “kẹt lại” không di tản kịp.

(còn tiếp)

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

tuoitre.vn

Advertisements
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

%d bloggers like this: